Xem chi tiet tin - Sở Công Thương

 

Phát triển công nghiệp và thương mại 5 năm giai đoạn 2021 - 2025

Ngày 23-06-2020

KẾ HOẠCH

 Phát triển công nghiệp và thương mại 5 năm giai đoạn 2021 - 2025

 

 

Thực hiện Công văn số 1397/SKHĐT-THQH ngày 24 tháng 6 năm 2019 của Sở Kế hoạch và Đầu tư về việc báo cáo tình hình thực hiện Kế hoạch kinh tế - xã hội 5 năm 2016 - 2020, xây dựng kế hoạch 5 năm 2021 - 2025;

Sở Công Thương tỉnh Hậu Giang báo cáo tình hình thực hiện kế hoạch phát triển công nghiệp và thương mại 5 năm giai đoạn 2016 - 2020, như sau:

Phần I

Đánh giá tình hình thực hiện Kế hoạch phát triển
công nghiệp và thương mại 5 năm (giai đoạn 2016 - 2020)

I. Kết quả thực hiện các chỉ tiêu chủ yếu của ngành công thương 5 năm (giai đoạn 2016 - 2020)

1. Về kim ngạch xuất nhập khẩu và dịch vụ thu ngoại tệ: Năm 2016 tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 752,483 triệu USD; năm 2018 đạt 1.114,3 triệu USD; ước thực hiện năm 2020 đạt 1.044 triệu USD, tăng 13,23% so cùng kỳ, vượt 13,48% so kế hoạch 05 năm

2. Về giá trị công nghiệp: Năm 2016 đạt 20.220 tỷ đồng (theo giá so sánh 2010),  năm 2018 đạt 25.442 tỷ đồng, tăng 16,49% so với cùng kỳ năm trước; Ước thực hiện năm 2020 đạt 32.538 tỷ đồng, tăng 12,20% so cùng kỳ và đạt 88,60% so kế hoạch 05 năm (2016 – 2020)

 3. Về tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ: Năm 2016  đạt 30.815 tỷ đồng,  năm 2018 đạt 35.365 tỷ đồng  tăng 7,71% so cùng kỳ; năm 2020 ước đạt 39.693 tỷ đồng, tăng 4,08% so cùng kỳ và đạt 86,44% so kế hoạch 05 năm

(Đính kèm phụ lục 2A)

II. Kết quả thực hiện trên từng lĩnh vực

1. Phát triển công nghiệp

Công nghiệp giữ vai trò quan trọng trong quá trình phát triển, nhờ tận dụng các nguồn lực đầu tư trong và ngoài nước để tập trung phát triển mạnh công nghiệp chế biến nông sản, thủy sản và phát triển công nghiệp hàng tiêu dùng có khả năng xuất khẩu và có lợi thế cạnh tranh của tỉnh. Bên cạnh đó, việc ứng dụng những tiến bộ khoa học công nghệ trong quản lý hoạt động sản xuất, kinh doanh và quảng bá sản phẩm của các doanh nghiệp cũng góp phần phát triển công nghiệp, tiết kiệm nguyên liệu, phát triển các ngành chế biến.

 Từ năm 2016 đến nay, các Khu – Cụm CN tập trung đã thu hút 13 dự án với tổng vốn đăng ký 4.821 tỷ đồng và 120 triệu USD; tổng vốn triển khai 32.220 tỷ đồng; có 07 dự án khởi công xây dựng; 15 dự án khánh thành đi vào hoạt động, giải quyết việc làm mới cho 17.292 lao động. Lũy kế đến nay có 47 NĐT thực hiện 52 dự án, gồm 50 dự án sản xuất kinh doanh (có 05 dự án nước ngoài) và 02 dự án kinh doanh kết cấu hạ tầng;  tổng mức thu hút đầu tư trong nước 70.376 tỷ đồng và ngoài nước là 487,9 triệu USD.

Lũy kế đến ngày 15/6/2019 các cụm công nghiệp thu hút được 27 NĐT thực hiện 28 dự án với 20 dự án đi vào hoạt động.

Hoạt động khuyến khích phát triển công nghiệp nông thôn (gọi tắt là hoạt động khuyến công) trên địa bàn tỉnh Hậu Giang trong thời gian qua có bước phát triển khá, thu hút được nhiều thành phần kinh tế đầu tư phát triển sản xuất công nghiệp nông thôn. Các cơ sở sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp (CN-TTCN) trên địa bàn tỉnh tăng nhanh về số lượng, chất lượng và quy mô sản xuất. Sản phẩm CN-TTCN ngày càng phong phú đa dạng, mẫu mã và chất lượng sản phẩm được quan tâm cải thiện, một số sản phẩm đã khẳng định được chỗ đứng trên thị trường, đang từng bước xây dựng và bảo vệ thương hiệu sản phẩm. Công nghiệp nông thôn phát triển đã tạo thêm việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế - lao động theo hướng công nghiệp hóa, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Hậu Giang nói riêng của cả nước nói chung. Công tác khuyến công tỉnh Hậu Giang trong những năm qua đã đạt được một số kết quả đáng khích lệ, đã tạo điều kiện cho các cơ sở công nghiệp nông thôn tiếp cận và thụ hưởng được các chính sách khuyến công. Vì thế, các cơ sở công nghiệp nông thôn đã từng bước mở rộng về quy mô sản xuất và nâng cao được số lượng, chất lượng sản phẩm của đơn vị mình. Từ năm 2016 đến nay, Sở Công Thương đã thực hiện 43 đề án hỗ trợ cho các doanh nghiệp/chủ cơ sở sản xuất, kinh doanh ứng dụng máy móc thiết bị tiên tiến, với tổng kinh phí là 9,53 tỷ đồng từ nguồn kinh phí khuyến công quốc gia và địa phương.

Đối với lĩnh vực điện, Sở Công Thương tham mưu UBND tỉnh chỉ đạo ngành điện đầu tư xây dựng các tuyến điện bức xúc, đứt khúc, đứt quãng, cải tạo, nâng cấp, sửa chữa các tuyến điện xuống cấp. Phối hợp Công ty Điện lực Hậu Giang đẩy nhanh tiến độ đầu tư xây dựng các công trình điện đảm bảo phục vụ nhu cầu sinh hoạt của người dân, đảm bảo cung ứng điện trong các dịp Lễ, Tết và các sự kiện chính trị, văn hóa lớn trong năm. Tình hình cung cấp điện trên địa bàn tỉnh ổn định, đáp ứng đủ cho nhu cầu sản xuất và sinh hoạt của người dân. Tỷ lệ hộ dân sử dụng điện toàn tỉnh Hậu Giang  năm 2016 đạt 99,55%, ước thực hiện cuối năm 2019 đạt 99,62%, vượt 0,62% so kế hoạch phát triển ngành công thương đến năm 2020 đề ra. Tỷ lệ hộ sử dụng điện an toàn năm 2016 đạt 98,34%, ước thực hiện cuối năm 2019 đạt 98,60%, vượt 0,60% so Kế hoạch triển ngành công thương đến năm 2020 đề ra.

2.  Phát triển thương mại

Xác định mục tiêu xây dựng cơ sở hạ tầng thương mại là việc quan trọng để phát triển thương mại của tỉnh. Kế hoạch 05 năm 2016 – 2020 của ngành đã đưa ra mục tiêu phát triển hệ thống chợ, siêu thị, trung tâm thương mại. Trong những năm qua, công tác đầu tư xây dựng cơ sở vật chất tại các chợ được quan tâm đổi mới, những chợ bị xuống cấp được sửa chữa, sắp xếp lại nên khá trang trang, hiện đại, trong đó có khu bán hàng thực phẩm đã cơ bản đáp ứng yêu cầu vệ sinh an toàn thực phẩm cũng như thuận lợi cho việc mua bán của người dân.   Từ năm 2016 đến nay đã xây dựng, nâng cấp cải tạo 56 lượt chợ, trong đó xây dựng mới 08 chợ (02 chợ từ nguồn ngân sách, 08 chợ từ nguồn vốn doanh nghiệp), nâng cấp cải tạo 48 lượt chợ; thu hút đầu tư xây dựng mới 05 siêu thị và 01 trung tâm thương mại, nâng tổng số cơ sở hạ tầng thương mại trên địa bàn tỉnh hiện nay có 06 siêu thị hạng 2, 01 trung tâm thương mại hạng 3 và 72 chợ.

Trong giai đoạn 2016 - 2019, hoạt động xúc tiến thương mại được quan tâm thực hiện và đạt được nhiều kết quả cụ thể như: Tổ chức 79 cuộc Hội chợ, trong đó có 12 hội chợ cấp tỉnh, 67 Hội chợ cấp huyện; tổ chức 10 Phiên chợ đưa hàng Việt về nông thôn tại các huyện, thị xã, thành phố trên địa bàn tỉnh;    các siêu thị, doanh nghiệp đưa khoảng 100 chuyến hàng Việt về nông thôn. Bên cạnh đó, xây dựng được 02 “Điểm bán hàng Việt Nam” với tên gọi “Tự hào hàng Việt Nam” tại thành phố Vị Thanh và thị xã Long Mỹ; Tham gia 18 kỳ Hội chợ tại các tỉnh thành; Tham gia 03 hội nghị kết nối cung cầu giữa các tỉnh, thành tại thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng; Tổ chức 02 đoàn giao thương, xúc tiến thương mại với các tỉnh miền Trung Tây Nguyên và giữa Hậu Giang với các tỉnh miền Bắc năm 2018.

Đặc biệt, Sở Công Thương đã phối hợp tổ chức thành công các chuỗi sự kiện Diễn đàn Hợp tác kinh tế đồng bằng sông Cửu Long – Hậu Giang 2016 (MDEC 2016), như: Hội nghị “ĐBSCL chủ động hội nhập và phát triển bền vững”, Hội chợ Công Thương khu vực đồng bằng sông Cửu Long năm 2016, đã thu hút 1.233 gian hàng của 441 đơn vị, doanh nghiệp tham gia, trong đó có 174 gian hàng triển lãm của các Bộ, Ban ngành Trung ương, các tỉnh thành phố, các tổ chức quốc tế và các doanh nghiệp tài trợ. Sở Công Thương đã phối hợp với các sở, ban, ngành liên quan tổ chức Hội nghị kết nối tiêu thụ nông sản tỉnh Hậu Giang năm 2018. Tại Hội nghị đã có 10 doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh tham gia ký kết biên bản ghi nhớ về cung ứng và tiêu thụ sản phẩm. 

Tổ chức thành công 14 lớp tập huấn như: Lớp “Các hiệp định thương mại tự do FTA, TPP”; Lớp tập huấn “Xây dựng phát triển thương hiệu trong thời kỳ hội nhập”; Lớp “Kỹ năng đẩy mạnh hoạt động Xúc tiến thương mại các mặt hàng nông sản”; Lớp bồi dưỡng kỹ năng đẩy mạnh xúc tiến thương mại, xây dựng và bảo vệ thương hiệu cho sản phẩm của địa phương; lớp tập huấn “Nâng cao kỹ năng xúc tiến thương mại chuyên nghiệp và kỹ năng tổ chức, tham gia hội chợ”, v.v..

3. Về tiêu chí xây dựng xã nông thôn mới: 

- Về điện: đã xác nhận 53/53 xã đạt tiêu chí số 4 về điện, đạt tỷ lệ 100%.

  - Về cơ sở hạ tầng thương mại nông thôn: tính đến nay đã xác nhận 43/53 xã đạt tiêu chí số 7, đạt tỷ lệ 81,48%. Trong đó: Sở Công Thương đã đã thẩm tra, xác nhận 31/53 xã; 12 xã xóa quy hoạch (xã Đại Thành, Nhơn Nghĩa A, Đông Thạnh, Phú An, Long Trị A, Hỏa Tiến, Đông Phước A, Thạnh Xuân, Tân Phú Thạnh, Bình Thành, Thuận Hòa, xã Tân Hòa).

III. Đánh giá chung, nguyên nhân và một số kinh nghiệm

1. Những mặt tích cực đạt được

Được sự quan tâm, chỉ đạo kịp thời và tạo điều kiện thuận lợi của Bộ Công Thương, Tỉnh ủy, UBND tỉnh, cùng sự phối hợp của các sở, ban, ngành và địa phương đã triển khai các giải pháp tái cơ cấu, nâng cao sức cạnh tranh, cải thiện dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp của ngành; bảo đảm cung cầu hàng hóa ổn định; đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, tích cực hỗ trợ doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất kinh doanh.

Với các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp, thường xuyên theo dõi tình hình sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp trên địa bàn; tiếp xúc và đối thoại với doanh nghiệp, lắng nghe và giải quyết những khó khăn, vướng mắc của doanh nghiệp đã tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp đầu tư, đi vào hoạt động, mở rộng sản xuất, kinh doanh. Từ đó, giá trị sản xuất công nghiệp liên tục tăng so cùng kỳ, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu tăng cao so cùng kỳ và đã vượt chỉ tiêu Nghị quyết được giao. Bên cạnh đó, việc tích cực thực hiện các chương trình xúc tiến thương mại, kêu gọi đầu tư cơ sở hạ tầng thương mại trên địa bàn đã từng bước hoàn chỉnh hệ thống mạng lưới chợ, siêu thị, trung tâm thương mại, các cửa hàng tiện ích, góp phần nâng tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tăng liên tục hàng năm.

  2. Hạn chế, khó khăn

- Mặc dù các chỉ tiêu của ngành đều tăng trưởng hàng năm nhưng so với mục tiêu Kế hoạch 05 năm 2016 – 2020 thì có 02 chỉ tiêu ước sẽ không đạt (giá trị sản xuất công nghiệp; tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ).

- Giá trị xuất nhập khẩu mặc dù hiện nay đã vượt mục tiêu so với Kế hoạch nhưng hiện nay tình hình doanh nghiệp xuất  khẩu còn gặp nhiều khó  khăn, nhất là về xuất khẩu hàng thủy sản chế biến.

- Công tác thu hút đầu tư và xúc tiến thương mại ở nước ngoài còn hạn chế.

- Một chợ hạng 3 và chợ tạm trên địa bàn tỉnh đã xuống cấp nhưng chưa được nâng cấp, sửa chữa.  

 3. Nguyên nhân hạn chế

 - Do đầu nhiệm kỳ dự báo một số doanh nghiệp lớn sẽ đi vào hoạt động nhưng đến nay dự án chưa đi vào hoạt động, như: Nhà máy Nhiệt điện Sông Hậu 1, Nhà máy Nhiệt điện Sông Hậu 2, Nhà máy điện trấu, ... Bên cạnh đó, Nhà máy đường Vị Thanh thuộc Công ty Cổ phần mía đường Cần Thơ, Công ty  CP dầu khí Bình Minh đã tạm ngưng hoạt động; Công ty CP chế biến thủy sản Long Phú đã thông báo giải thể, Công ty TNHH MTV Thủy sản Hoàng Long tạm ngưng hoạt động, Công ty TNHH Taydosin đã chuyển hoạt động về tỉnh An Giang. Do đó, ước năm 2020 giá trị sản xuất công nghiệp không đạt mục tiêu Kế hoạch đề ra.

- Về tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ, mặc dù cơ sở hạ tầng được đầu tư, nhiều hoạt động xúc tiến thương mại được tổ chức hàng năm nhưng do tỉnh Hậu Giang chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, những năm qua do biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh liên tiếp xảy ra nên thu nhập, mức sống người dân còn thấp nên sức mua còn yếu. Hoạt động du lịch trên địa bàn chưa hấp dẫn du khách nên lưu trú và dịch vụ đạt chưa cao. Do đó, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ có tốc độ tăng trưởng thấp và ước không đạt mực tiêu Kế hoạch.

- Do còn thiếu kinh phí và kinh nghiệm trong hoạt động xúc tiến thương mại tại nước ngoài.

- Do thiếu nguồn kinh phí nên một số chợ chưa được đầu tư nâng cấp. Một số chợ ở vùng sâu nên khó thu hút nhà đầu tư.

 4. Kinh nghiệm

 - Cần sự ủng hộ quyết liệt các cấp chính quyền địa phương trong nhận thức quản lý điều hành để phát triển kinh tế - xã hội; nâng cao năng lực lãnh đạo của các cấp chính quyền.

- Chính sách phải thông thoáng, hấp dẫn; hỗ trợ, tạo điều kiện tối đa để doanh nghiệp đến đầu tư và phát triển; minh bạch hóa thông tin, loại bỏ dần chi phí không chính thức và tiến tới lành mạnh môi trường đầu tư. Cải cách thủ tục hành chính phải được ưu tiên đặt lên hàng đầu và có sự đột phá để tạo thuận lợi cho doanh nghiệp; tăng cường đối thoại với doanh nghiệp và phối hợp với các ngành địa phương liên quan tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp.

- Đẩy mạnh công tác xúc tiến thương mại, tìm đầu ra cho sản phẩm chủ lực của tỉnh ổn định lâu dài và bền vững; cần sự hỗ trợ từ Bộ Công Thương về nhu cầu thị trường các nước để hỗ trợ tích cực cho các doanh nghiệp xuất khẩu. Đội ngũ cán bộ làm công tác xúc tiến thương mại cần được đào tạo, tập huấn bài bản, nâng cao tính chuyên nghiệp, nhất là ra thị trường nước ngoài.

- Tăng cường công tác tuyên truyền, quảng bá các chính sách ưu đãi, các địa điểm để kêu gọi đầu tư.

- Coi trọng việc bảo vệ môi trường là ưu tiên hàng đầu trong các chính sách thu hút đầu tư của tỉnh.

Phần II

Mục tiêu, nhiệm vụ đột phá và các chỉ tiêu chủ yếu của ngành
công thương 5 năm 2021 - 2025

I. Dự báo tình hình giai đoạn 2021 - 2025

          Thực tế cho thấy kinh tế thế giới vẫn đang tiềm ẩn nhiều nguy cơ do căng thẳng thương mại, bất ổn chính trị cũng như mức độ tăng trưởng không duy trì được như trước đây. Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang tác động mạnh mẽ tạo ra những thời cơ và thách thức trong phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia. Dự báo đà tăng trưởng tích cực của kinh tế thế giới đang chịu nhiều sức ép do môi trường thương mại và đầu tư toàn cầu có nhiều rủi ro, trong đó nổi lên: Xu hướng bảo hộ tăng mạnh, căng thẳng thương mại leo thang; xuất hiện áp lực lạm phát có thể đẩy nhanh hơn tiến độ thu hẹp nới lỏng tiền tệ ở nhiều nền kinh tế lớn (Mỹ, EU, Anh…), tác động đến dòng vốn đầu tư, đặc biệt là đầu tư vào các nền kinh tế đang nổi; việc triển khai chương trình cải cách thuế của Mỹ đang thúc đẩy các tập đoàn đa quốc gia có xu hướng hạn chế đầu tư ra nước ngoài, đưa sản xuất về trong nước, do đó tác động đến dòng vốn quốc tế.

          Tại Việt Nam, cùng với xu hướng chung của thế giới, giai đoạn 2021 - 2025 nền kinh tế phải đối mặt với những thuận lợi cũng như khó khăn, thách thức nhất định.  Khu vực công nghiệp - xây dựng sẽ tiếp tục tăng trưởng bứt phá và trở thành khu vực dẫn dắt tăng trưởng toàn nền kinh tế trong giai đoạn 2021 - 2025 khi môi trường kinh doanh tiếp tục khởi sắc hơn, cầu trong nước cải thiện và những ảnh hưởng tích cực từ chính sách hỗ trợ của Chính phủ; Đối với khu vực dịch vụ, với sự cải thiện cầu tiêu dùng, cùng với việc hiện thực hóa của cộng đồng chung ASEAN và thực thi các hiệp định thương mại tự do mang lại tự do hóa thương mại dịch vụ sẽ có nhiều tác động tích cực đến việc mở rộng các hoạt động dịch vụ tại Việt Nam.     Tuy nhiên, trong dài hạn khu vực công nghiệp - xây dựng sẽ đối mặt với những thách thức về giá cả một số nguyên liệu đầu vào, sức cạnh tranh của các doanh nghiệp sản xuất còn yếu, giá trị gia tăng trong sản xuất còn thấp, hàm lượng khoa học công nghệ trong sản phẩm chưa cao.  

Tại Hậu Giang, tỉnh đang đẩy mạnh cải cách hành chính, nhất là dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 và 4; thực hiện công khai minh bạch các thiết chế quản lý theo mô hình một cửa, môi trường kinh doanh của tỉnh ngày càng được cải thiện. Đây là tiền đề rất quan trọng không chỉ để phát huy tiềm năng của các thành phần kinh tế của tỉnh mà còn thu hút mạnh đầu tư từ bên ngoài, qua đó tiếp nhận vốn, công nghệ sản xuất và công nghệ quản lý, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo ra công ăn việc làm và chuyển dịch cơ cấu lao động, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá, bảo đảm tốc độ tăng trưởng và rút ngắn khoảng cách phát triển so với các tỉnh, thành trong khu vực và so với cả nước. Liên kết hợp tác vùng cũng là một cơ hội cho Hậu Giang, có thể hỗ trợ lẫn nhau phát triển tốt hơn.  Bên cạnh những thuận lợi vừa nêu, sự biến động thị trường trong và ngoài nước sẽ tác động mạnh đến tỉnh Hậu Giang, nhất là khó khăn trong thu hút đầu tư sản xuất và xuất khẩu.

Trong bối cảnh nêu trên, dự báo tình hình sản xuất, kinh doanh trên địa bàn tỉnh Hậu Giang sẽ có sự tăng trưởng về giá trị sản xuất công nghiệp nhưng không cao. Lý do là chính sách mở cửa, miễn và giảm thuế nhập khẩu của việc thực hiện các Hiệp định thương mại đã ký kết sẽ dẫn đến một số doanh nghiệp không đủ sức cạnh tranh, nhất là về mặt hàng đường; việc thu hút doanh nghiệp mới vào đầu tư sản xuất còn gặp khó khăn.

 Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ sẽ tăng do hệ thống các siêu thị, chợ, cửa hàng tiện ích phân bố rộng khắp với các chương trình khuyến mãi hấp dẫn, hàng hóa phong phú cùng với chế độ cải cách tiền lương, mức thu nhập tăng, đời sống người dân được cải thiện nên nhu cầu mua sắm sẽ tăng. Dự báo giai đoạn 2021 – 2025, ngành du lịch tỉnh sẽ phát triển hơn sẽ kéo theo sự tăng trưởng của lưu trú và dịch vụ. Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng đạt thấp so với mức trung bình cả nước.

  Về xuất nhập khẩu tính đến nay đã vượt mục tiêu Nghị quyết đề ra. Tuy nhiên thời gian tới tình hình xuất nhập khẩu của tỉnh dự báo phải đối mặt với những khó khăn nhất định do các nước này ngày càng dựng lên các rào cản thương mại mới trong việc nhập khẩu các mặt hàng thủy sản có xuất xứ từ Việt Nam. Rào cản lớn nhất  vẫn là vấn đề an toàn thực phẩm, dư lượng chất kháng sinh trong sản phẩm, thuế chống bán phá giá, truy xuất nguồn gốc sản phẩm,..

II. Mục tiêu, chỉ tiêu chủ yếu, nhiệm vụ đột phá và giải pháp thực hiện giai đoạn 2021 - 2025

 1. Mục tiêu:

Phát triển ngành công thương theo hướng bền vững đạt mức tăng trưởng chung của tỉnh đề ra giai đoạn 2021 - 2025;

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế đúng hướng, tăng dần tỷ trọng ngành thương mại dịch vụ trong cơ cấu kinh tế của tỉnh; lấy công nghiệp làm mũi nhọn, là động lực phát triển ngành công thương trong giai đoạn tới.

2. Các chỉ tiêu chủ yếu của ngành giai đoạn 2021 - 2025:

  (Đính kèm phụ lục 2B)

3. Nhiệm vụ đột phá và giải pháp đạt mục tiêu, chỉ tiêu của ngành giai đoạn 2021- 2025:

3.1. Tăng cường công tác xúc tiến thương mại, liên kết vùng, kết nối cung cầu nhằm đưa các sản phẩm chủ lực, hàng thủ công mỹ nghệ của tỉnh Hậu Giang vào hệ thống phân phối hiện đại, các điểm tham quan du lịch trong tỉnh và các tỉnh thành trong cả nước.  Nghiên cứu nhu cầu, quy chuẩn thị trường các nước và tham gia Hội chợ triễn lãm tại nước ngoài.

3.2. Vận động, thành lập, cho ra mắt mô hình “Khu dân cư cam kết ưu tiên sử dụng hàng Việt”.

3.3. Tăng cường kêu gọi đầu tư  các chợ đầu mối nông sản; hệ thống chợ, siêu thị mini, điểm bán hàng Việt tại các Khu- Cụm Công nghiệp.

3.4. Thu hút đầu tư vào các ngành công nghiệp phụ trợ, công nghiệp chế biến nông sản, thủy sản có lợi thế cạnh tranh và phát triển một số hàng tiêu dùng có khả năng tiêu thụ nội địa và xuất khẩu.

 3.5. Phát triển năng lượng tái tạo mà cụ thể là điện mặt trời kết hợp vào nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao trên địa bàn tỉnh Hậu Giang; Phấn đấu đến năm 2025 xây dựng 01 nhà náy điện gió trên địa bàn tỉnh.

3.6. Thường xuyên phối hợp các ngành đi thăm, làm việc, đối thoại với doanh nghiệp. Tích cực và chủ động trong việc tiếp cận các cơ sở, doanh nghiệp để nắm bắt nhu cầu và tư vấn, hướng dẫn cho các cơ sở, doanh nghiệp làm thủ tục để được hỗ trợ các chính sách Khuyến công. Đồng thời, tập trung xem xét hỗ trợ đầu tư một số dự án có lợi thế cạnh tranh, điển hình để tạo sự chuyển biến mạnh mẽ cho sự phát triển của ngành.

    Trên đây là nội dung báo cáo của Sở Công Thương tỉnh Hậu Giang về đánh giá giữa nhiệm kỳ giai đoạn 2016 - 2020 và xây dựng Kế hoạch 5 năm 2021 - 2025 của ngành công thương Hậu Giang./.

Nơi nhận:

GIÁM ĐỐC

- Sở Kế hoạch và Đầu tư;

- BGĐ Sở;

- Các Phòng, đơn vị trực thuộc;

- Lưu: VT, KHTCTH.NT.

 

 

 


Bạn có tài khoản để nộp hồ sơ trực tuyến tại Cổng Dịch vụ công của Hậu Giang

Không biết đăng ký
Chưa đăng ký
Đã có tài khoản bằng Số Điện thoại
Đã có tài khoản bằng USB ký số (VNPT hoặc Cục cơ yếu CP)


Đang online: 1
Hôm nay: 593
Đã truy cập: 109707
Bạn chưa có đủ quyền truy nhập portlet này.